Trước tiên, cần tìm hiểu về mô hình kinh doanh (MHKD) của ngân hàng.
MHKD của ngân hàng được xoay quanh chỉ bởi 1 chữ: Tiền.
Họ huy động tiền, và sau đó tìm cách sử dụng tiền huy động được, sao cho phần thu nhập nhận được, nhiều hơn phần chi phí để huy động và trang trải các chi phí hoạt động.
Nhìn báo cáo tài chính của từng ngân hàng, chúng ta có thể phần nào cảm nhận được chiến lược phát triển và tính cách (khẩu vị rủi ro) của ngân hàng đó.
Mấy câu hỏi lớn cần đặt ra khi phân tích 1 ngân hàng.
1. Mảng kinh doanh nào là chính, mang lại thu nhập/lợi nhuận cho ngân hàng.
Có 3 nguồn thu nhập của 1 ngân hàng. Đó là thu nhập từ lãi (hoạt động cốt lõi của bất kỳ 1 NHTM nào), thu nhập từ dịch vụ và thu nhập từ đầu tư.
Thu nhập từ lãi là mảng cốt lõi nhưng có xu hướng càng ngày càng chiếm tỷ trọng nhỏ trong mô hình thu nhập của 1 ngân hàng hiện đại (hiện tỷ lệ này ở các ngân hàng việt nam khoảng 60-70%). 2 động lực để tăng thu nhập từ nguồn này bao gồm: Quy mô cho vay và Biên lãi thuần (NIM).
Quy mô cho vay, ngoài ảnh hưởng bởi nhu cầu của nền kinh tế, còn có 1 trần phát triển đó là chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, cái mà được SBV phân bổ cho từng ngân hàng theo các tiêu chí do SBV đưa ra.
Biên lãi thuần (NIM) sẽ biến động phụ thuộc vào chi phí huy động (COF) và tỷ lệ lãi thuần (YEA).
- Chi phí huy động (COF) sẽ phụ thuộc vào cơ cấu huy động theo tiêu chí: nguồn huy động (cá nhân/tổ chức kinh tế/ tổ chức tín dụng và NHNN), kỳ hạn huy động (không kỳ hạn/ngắn/trung/dài hạn). 1 chỉ tiêu quan trọng mà các ngân hàng Việt Nam hiện chạy đua để cải thiện đó là tỷ lệ Casa (Casa= tiền gửi không kỳ hạn/tổng số dư tiền gửi).
- Tỷ lệ lãi thuần (YEA) sẽ phụ thuộc nhiều vào cơ cấu tín dụng (cho vay/trái phiếu), bởi thông thường trái phiếu sẽ có mức lãi cao hơn các khoản cho vay do nó thường có kỳ hạn dài (3 năm). Cơ cấu các khoản cho vay cũng sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ này, phản ảnh qua cơ cấu kỳ hạn (ngắn/trung/dài); nhóm khách hàng (cá nhân/tổ chức); cơ cấu theo ngành nghề (hàm ý cơ cấu rủi ro).
Thu nhập từ đầu tư: có 1 số ngân hàng rất tích cực trong hoạt động này, 1 số khác thì không. Đây là nguồn thu nhập có sự biến động lớn và ảnh hưởng lớn bởi rủi ro thị trường - điều mà các ngân hàng không kiểm soát được.
Thu nhập từ dịch vụ: đây là nguồn thu đến từ phí và các doanh thu dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Phí bán bảo hiểm chiếm tỷ trọng lớn (40-60%) trong nguồn thu này.
2. Chất lượng các khoản tín dụng
Để phản ánh chất lượng, ta nhìn vào 2 chỉ tiêu
- tỷ lệ nợ xấu (NPL)= (nợ xấu nhóm 3+4+5)/ tổng dư nợ
- tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR)= tổng chi phí dự phòng tín dụng/ (nợ xấu nhóm 3+4+5)
Dù SBV có các quy định hướng dẫn việc phân loại nhóm nợ, nhưng cần hiểu rằng việc phân loại này vẫn còn chứa yếu tố "ý muốn chủ quan" của từng ngân hàng. Nhìn việc cơ cấu các nhóm nợ, chi phí trích lập dự phòng (tương quan với quy mô tín dụng của ngân hàng) ta sẽ có cảm nhận phần nào về mức độ "phiêu liêu" hay "căn cơ" của ngân hàng đó.
3. Hiệu quả hoạt động
Ngân hàng, cũng là 1 doanh nghiệp. Ngoài việc tối đa thu nhập thu được thì để gia tăng lợi nhuận, ngân hàng cũng cần quan tâm đến việc quản lý/tiết kiệm chi phí hoạt động.
Để phản ánh trình độ quản lý chi phí, ta dùng chỉ tiêu CIR= chi phí hoạt động/doanh thu thuần hoạt động.
Nhận xét
Đăng nhận xét